Về với Lâm Đồng

Thung thăng xứ trà Bazan

Bài và anh Bảo văn | 12/12/2018 15:16

Trên đồi chè Cầu Đất - Đà Lạt

Những cây chè hồn nhiên ngậm sương, đón nắng, chắt chiu tơ trời, nhụy đất để tích hương, góp thêm vị cho cuộc sống con người. Ðời của mỗi người rồi sẽ qua, nhưng trên miền đất bazan nam Tây Nguyên này, có lẽ, nghiệp trà vẫn trường tồn mãi mãi.

Chiều yên ả. Ngọn gió cuối đông lướt thướt ngang qua miền đất bazan Lâm Đồng, quyến hương chè rải theo triền núi. Thung thăng giữa không gian khoáng đạt, điệp trùng thảm xanh của những nương chè phủ khắp núi đồi, mênh mang đến bất tận. Gió thơm. Đất trời thơm. Hương chè ủ ấp, quấn quyện trong từng chân tóc, nếp áo, vương vấn mãi…

Không phải ngẫu nhiên mà người Pháp đã chọn vùng đất nam Tây Nguyên để “gieo những mầm chè”, tạo nên hương vị trà đậm chất xứ đất đỏ bazan. Khí hậu và thổ nhưỡng ở vùng cao nguyên này rất thuận lợi để cây chè đâm chồi, nảy lộc. Nghiệp trà ở Lâm Đồng khởi nguồn từ những thập niên đầu thế kỷ trước và gắn bó với đông đảo người dân ở vùng đất này đến mãi hôm nay.

Chiều buông nắng. Tôi tìm về nơi khởi nguồn nghề trà trên vùng đất nam Tây Nguyên. Ngày xưa, nơi đây gọi là Sở trà Cầu Ðất do người Pháp lập ra năm 1927. Còn bây giờ, trên miền đất ấy là nơi đóng chân của Công ty Cổ phần Chè Cầu Ðất, nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 22km về phía đông nam. Ở Lâm Ðồng, nếu gọi B’Lao là “thủ đô chè” thì Cầu Ðất có thể coi là “nguồn cội chè”. Tại nhà máy chế biến trà gần 100 năm tuổi này vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn giàn máy sản xuất chè theo kỹ thuật cơ khí hồi đầu thế kỷ trước. Ðây là dây chuyền sản xuất chè đen của Pháp gồm sáu cỗ máy được coi là cổ nhất Ðông Dương hiện nay.

sản xuất trà ô long tại vùng chè cầu đất - đà lạt

Sản xuất trà Ô long tại vùng chè Cầu Đất.

Trải qua biết bao thăng trầm của nghiệp trà, giờ đây luồng sinh khí mới đã thổi vào “nguồn cội” xứ trà trên cao nguyên Lâm Đồng. Vẫn giữ lại “giàn máy lịch sử” của nghiệp trà trên xứ sở này để phục vụ khách tham quan, công ty đầu tư dây chuyền sản xuất mới, có công suất đủ lớn để chế biến khoảng 300 hecta nguyên liệu chè chất lượng cao, cung cấp cho thị trường xuất khẩu và nội địa.

Từ vùng Cầu Ðất, cùng với quá trình phát triển và nhu cầu khai thác đất đai, nhân công bản xứ của người Pháp mà cây chè đã “nảy mầm” ở vùng B’Lao, Di Linh theo lộ trình Ðà Lạt - Sài Gòn vào thập niên 30 thế kỷ trước. Chè bắt đầu bén rễ với đất B’Lao từ đồn điền của các ông chủ đến từ Tây Dương, như đồn điền Pôn-pe, Sô-ven, La-ruy, Fe-lit B’Lao, B’Lao Sierré... rồi sau đó là sự ra đời của các trang trại, các rẫy chè của hộ gia đình, như Năm Mậu, Huỳnh Hoa, Ngô Văn, Xu Tiên và cái tên Lê Minh Xanh được đặt cho con dốc ngay ngõ vào thành phố Bảo Lộc đến tận ngày nay… Từ đó, vùng đất bazan này đã hình thành một tầng lớp cư dân gắn với “nghiệp trà hương”, với thương hiệu được nhiều danh trà “khai sinh” tự nhiên: Hương trà B’Lao! Đó chính là khởi nguồn của thương hiệu “Trà B’Lao” được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận vào cuối năm 2009.

Thương hiệu Trà B’Lao được xác nhận đối với bốn sản phẩm, gồm trà xanh ướp hương, trà xanh, trà đen chế biến và trà ôlong. Như vậy, ngoài tên gọi của cơ sở sản xuất, những danh trà này đều dùng thêm chữ “trà B’Lao” trên bao bì sản phẩm - cho dù danh trà của họ có nổi tiếng đến mấy, như danh trà Ðỗ Hữu, Trâm Anh, Tâm Châu hay Rồng Vàng, Phương Nam, Ngọc Bảo... Nếu không gắn dòng chữ B’Lao vào bao bì sản phẩm, thì thương hiệu mất đi sự cuốn hút. Những người sành trà ở xứ bazan cho rằng, trà B’Lao mang phong vị riêng đã từng chinh phục “gu” thưởng trà của người “Đàng Trong”, với chè búp tươi được ép bớt nước đắng, sao khô rồi ướp hương, đóng gói. Trà hương B’Lao chủ yếu là hương sói, hương lài… mùi vị thanh tao, dễ chịu.

phố trà bảo lộc
Phố trà Bảo Lộc.

Theo dòng chảy lịch sử, nghiệp trà trên miền bazan Lâm Ðồng cũng lúc thăng, lúc trầm. Song, nó vẫn sinh sôi nảy nở, bám lấy số phận con người trên vùng đất nam Tây Nguyên. Như câu nói chứa chan của “Bà chúa trà hương” Đỗ Thị Ngọc Sâm, chủ danh trà Đỗ Hữu: Đất trà, đất quý. Không theo nghề trà uổng lắm.

Bảo Lộc đã đánh thức tôi mỗi lần ngang qua phố bởi mùi hương dịu êm, gần gũi của trà B’Lao, để được thung thăng với những nương chè trải dài mải miết… Về với xứ trà B’Lao, tôi gặp “Bà chúa trà hương”, người sáng chế sản phẩm trà hương đầu tiên ở B’Lao cách đây hơn nửa thế kỷ. Đã qua tuổi 93, nhưng ký ức về những ngày đầu lập nghiệp trên vùng đất B’Lao của cụ vẫn vẹn nguyên. Với chất Huế trong trẻo, cụ kể: “Năm 1950, tôi từ Huế vào B’Lao lập nghiệp. Thuở ấy, nơi đây còn hoang vắng lắm. Đầu tiên, tôi đi làm phu tại các đồn điền chè của người Pháp. Hằng ngày, tôi lén giấu vài hạt chè vào “gô” cơm mang về. Được hạt nào ươm hạt nấy, đến khi vườn trà ra đọt, đủ sống qua ngày thì không đi làm thuê cho Pháp nữa”.

Nghiệp trà ướp hương đến với cụ Sâm thật tình cờ. Trong một lần uống trà, anh trai bà ngẫu hứng hái bông hường vi thả vào tách trà, uống thấy thơm ngon nên bảo bà ướp thử. “Mang sản phẩm mời nhiều người uống ai cũng thích, từ đó tôi chú tâm nghiên cứu thêm nhiều hương vị khác, như trà hương sói, hương lài, hương sen…”, cụ Sâm cho biết. Năm 1956, danh trà Đỗ Hữu chính thức có mặt trên thị trường với biểu tượng chim bồ câu trắng. Theo cụ Sâm, đó là biểu tượng mong ước hòa bình nổi danh đến ngày nay. Giờ đây, đối với cụ, làm trà dường như không còn ý nghĩa bán mua, mà là trao gửi cho nhau những món quà văn hóa tao nhã xứ B’Lao.

nương chè b'lao
Nương chè B'Lao xanh bạt ngàn.

Xuôi theo quốc lộ 20, chạy dọc phố thị Bảo Lộc, những chuyến xe ngang qua vô tình vương hương trà B’Lao, thức tỉnh. Trong “bảo tàng mini” về nghiệp trà xứ B’Lao, ông Vũ Hùng Anh (68 tuổi), chủ danh trà Trâm Anh thổ lộ, tuổi thơ của ông gắn liền với những sáng tinh sương theo ông ngoại lên những đồi chè ngút ngàn, tít tắp từ chân đèo Bảo Lộc đến tận huyện Di Linh (Lâm Đồng). Bản thân ông là một trong những người gắn bó với nghiệp trà từ rất sớm trên xứ trà B’Lao. Còn gia đình ông thì có bốn đời keo sơn với nghề trà. Ông là đời thứ ba nối nghiệp trà của ông ngoại với thương hiệu Chín Phương, đến đời bố xây dựng thương hiệu Vạn Xuân… Nay, con gái ông tiếp nối nghiệp trà và tiếp tục “vun vén” thương hiệu trà Trâm Anh.

Tiếp nối nghiệp trà, nhiều nông hộ ở Lâm Đồng đã chuyển hướng sang trồng chè, nhiều doanh trà mới lần lượt ra đời, như Phương Nam, Bình Đông, Hoàng Thiên, Hoa Sen… Khác với chế biến trà thủ công - “trà bồ” ngày xưa nay công nghệ ướp hương trà đã được nâng lên một bậc, nhiều cơ sở, doanh nghiệp trà đã đầu tư trang thiết bị hiện đại để mở rộng thị trường, đưa hương trà B’Lao ngày một lan xa.

Cây chè phôi thai ở Lâm Đồng từ năm 1927, do các doanh gia người Pháp trồng và khai thác. Trước 1975, diện tích chè ở đây khoảng 5.000 ha. Giờ đây, Lâm Đồng là tỉnh có vùng chè tập trung lớn nhất Việt Nam, hơn 24.000 ha, chiếm 22% diện tích chè cả nước, được mệnh danh là “thủ phủ trà Việt Nam”.